Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Pháp ngữ trong lòng bàn tay (3)





“Đới nghiệp vãng sinh”
Cụm từ này dành riêng cho Tịnh độ tông, còn tất cả các pháp môn khác thì không có trường hợp này. Nói dễ hiểu "đới nghiệp vãng sinh" là còn nghiệp chướng nhưng vẫn có thể xuất ly sinh tử luân hồi, sinh sang thế giới Cực Lạc.
Đây là điều rất hy hữu và chưa từng xảy ra đối với hành giả tu các pháp môn khác. Nhưng người tu niệm Phật cần phải hiểu rõ nghĩa lý của bốn chữ này, nếu không hành trình tiến về Cực Lạc của chúng ta sẽ bị ngưng trệ, thậm chí có thể không được vãng sinh.
"Nghiệp" - nói đủ là nghiệp chướng.
Nghiệp là những điều tạo tác từ thân - miệng - ý, những thứ ấy ngăn trở bản tính sáng suốt của ta. Chướng là những phiền não là ngăn ngại, cản trở đường đến niết-bàn, bồ-đề.
Muốn thoát ly luân hồi thì phải "nghiệp tận, tình không". Đó là cách thức tu hành thông thường của tất cả các pháp môn. Vì nhận thấy đoạn hết nghiệp chướng trong một đời là vấn đề quá khó nên Tịnh độ vạch ra con đường phục nghiệp và mang theo chúng mà xuất ly sinh tử.
Dĩ nhiên không thể hiểu theo kiểu là hàng ngày mặc tình gây tạo ác nghiệp, bất chấp tội phước, chỉ biết mưu cầu lợi ích cá nhân, thậm chí giết vật hại người… rồi sau đó đến lúc sắp qua đời đề khởi 10 niệm A Di Đà để mang theo tất cả nghiệp ấy mà ra đi về cảnh Tây phương Cực Lạc, thọ hưởng an lành. Hành giả Tịnh môn nên chú ý:
Điều thứ nhất, người tạo ác nghiệp dù nhiều hay ít trong đời này thì đến khi sắp từ biệt cõi trần sẽ khó có thể duy trì 10 niệm A Di Đà trong chính định. Nếu như vậy thì không đạt tiêu chuẩn vãng sinh.
Điều thứ hai, mang theo nghiệp (đới nghiệp) tức là mang theo nghiệp chướng đã gây tạo trong vô lượng kiếp ở quá khứ, không chấp nhận trường hợp người ta không biết dừng việc xấu ác trong đời sống hiện tại và cũng không chấp nhận trường hợp người ý thức được điều xấu ác mà vẫn thực hành.
Điều thứ ba, nghiệp chướng mà hành giả mang theo phải được chế ngự hoàn toàn, tức là hành giả đã phục được nghiệp chướng, khống chế được chúng và chúng không có cơ hội phát huy tác dụng.
Đó là những điều kiện cần cho một hành giả Tịnh môn, người nào muốn vãng sinh thì nên đặc biệt lưu tâm đến những điều vừa trình bày trên. Tịnh độ là con đường có thể thoát ly sinh tử trong một đời nhưng điều đó không có nghĩa bất kỳ người nào niệm A Di Đà đều được vãng sinh.
Nguyện thứ 18 của Phật A Di Đà, đạt ra yêu cầu tối thiểu cho một người tu Tịnh độ là chỉ cần 10 niệm danh hiệu ngài trong chính định thì ngài hiện thân tiếp dẫn về thế giới Cực Lạc (dù người đó vẫn còn nghiệp chướng). Thoát ly sinh tử mà chỉ cần 10 niệm A Di Đà trong chính định thì rõ ràng là quá “ưu đãi” cho người tu Phật rồi, nếu chẳng nhờ bi nguyện của đức từ phụ A Di Đà thì sao có thể hưởng được Phật-đức này.
Muốn đạt được nhất tâm trong 10 niệm A Di Đà Phật thì hàng ngày hành giả phải tích lũy công đức, niệm A Di Đà đạt đến độ thuần thục, không vọng tưởng. Bên cạnh đó, hành giả cần vun bồi thiện phước, làm lợi ích cho mọi người, dẹp đi tham chấp tự ngã, chuyển hóa điều bất thiện nơi lòng mình.
“A Di Đà Phật” - Xin gìn giữ nơi tâm.

“Bên chung trà
hồng danh một niệm
sen ngát mùa hoa”.
(Thơ Đông Tùng)


Chùa Huệ Nghiêm, Bình Tân 13.01.2013
Thích Cát Tường

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét