MỘT THIỀN BÚT TÀI HOA QUA THƠ HAIKU VÀ THƯ PHÁP VIỆT
(Trích từ báo Giáo dục và Thời đại -Tài Hoa Trẻ
số 678, 20-1-2011)
Lướt qua nhiều nhà sách hiện nay, bạn có thể bắt gặp các cuốn sách vừa mắt, vừa tay và vừa vặn túi tiền mà tác giả của chúng với bút hiệu Đông Tùng – một trong những cái tên thu hút sự chú ý của những người yêu thư pháp Việt và thơ Haiku…Việt. Bạn đọc chắc sẽ có được bất ngờ thú vị, khi biết đó chính là một Thiền sư trẻ, tài hoa và kiến văn sâu rộng – một hậu duệ xứng đáng của các bậc tiền bối như Thiền sư Huyền Quang…
KHÉO TU THÌ NỔI…
Do hẹn trước đã mấy hôm nên tôi không điện thoại lại cho thầy Minh Cần, mà cứ tới thẳng chùa Huệ Nghiêm – một ngôi chùa lớn, lâu đời, đồng thời là một trung tâm Phật học, nằm gần Bến xe Miền Tây. Một là tiện thể vãng cảnh chùa mới trùng tu rất đẹp, chánh điện chùa Huệ Nghiêm có bộ tượng Phật tam thánh (Thích-ca, Văn Thù, Phổ Hiền) bằng gỗ quý chạm khắc rất đẹp và rất lớn. Tượng Đức Phật Bổn sư lộ thiên (bên ngoài) điêu khắc theo kiến trúc kỷ hà học cũng rất đặc sắc bởi nét dung dị đạm đà chất Việt – Đông Nam Á. Ngày trước, chùa Huệ Nghiêm từng là nơi hành đạo của các danh tăng như Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiền Tâm, Thích Thanh Từ… Trên đường đi, tôi chợt nhớ câu ca dao xưa: “Lênh đênh qua của Thần Phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm!”. Chắc hẳn vị tu sĩ trẻ này từ lâu đã hội đủ cơ duyên, mà cũng thật “khéo tu” nên mới “nhập” vào được chùa này?! Và tôi đã không nhầm…
Đông Tùng tên thật là Trần Ngọc Thảo, sinh năm 1974, tại xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ngoài hai bút danh chính là Đông Tùng và Hiểu Đông, Ths. Trần Ngọc Thảo còn có Pháp tự là Cát Tường, khi xuất gia nhận Pháp hiệu là Thích Minh Cần.
Đông Tùng là con của một gia đình trí thức bậc trung, phụ thân là giáo viên tiểu học, có tố chất nghệ sĩ, rất thích sưu tập tem và chụp ảnh. Chắc kế thừa cái “máu nghệ sĩ” ấy nên thầy Minh Cần đã chọn con đường vừa tu vừa tạo(sáng tạo) và chọn nghệ danh Đông Tùng (cây Tùng mùa đông – vẫn vững vàng, xanh tươi trong giá rét!).
Mời tôi cùng nhấp chung trà - tôi nhắc đùa câu“Khiết trà khứ!” (Uống trà đi!) - Thiền ngữ nổi tiếng của một thiền sư Triệu Châu, Đông Tùng kể: “- Mẹ mất lúc Đông Tùng mới lên một tuổi. Cha tôi bước thêm bước nữa, Tùng sống với bà nội. Lên ba tuổi, Tùng quy y tại chùa Ấn Quang với Hòa thượng Thích Thiện Hòa với Pháp danh là Cát Tường (khi xuất gia đổi thành Pháp tự). Khi vừa tốt nghiệp cấp 3, tôi lên Sài Gòn, vào chùa Huệ Nghiêm xin xuất gia và an trú tu học ở đây từ 1992 tới nay… ”.
CHUYÊN CẦN HỌC HỎI CẢ TRONG LẪN NGOÀI
Biết đây là một nhân vật đặc biệt – một đề tài thú vị nên tôi không ngại hỏi thẳng:
- Thế do đâu mà thầy có được bằng của trường ĐH KHXH&NV?
- Chùa Huệ Nghiêm là một trung tâm giáo dục Phật Giáo, tiền thân của chùa là viện Cao đẳng Phật học. Năm 1992, Đông Tùng đã thi đậu Đại học Sư Phạm TP.HCM, dự định lên Sài Gòn vừa tu Phật vừa học tiếp chương trình đại học. Nhưng bổn phận và trách nhiệm của người xuất gia là phải am tường Phật lý nên Tùng đành hoãn lại việc học đại học và chuyên tâm vào nội điển nhà Phật. Dưới sự giáo thọ tận tâm của các bậc Hòa thượng như Thích Chơn Thanh, Thích Chơn Lạc, Thích Minh Thông, Thích Thiện Quý và một vài vị Hòa thượng khác... chỉ trong 8 năm Tùng đã hoàn tất chương trình Cao đẳng Phật học. Sau khi hoàn tất về Phật học, năm 2000 Tùng thi vào khoa Ngữ văn và Báo chí trường Đại học KHXH&NV. Năm 2004 Tùng tốt nghiệp Đại học với bằng Cử nhân Hán Nôm. Từ năm 2005-2008 là thời gian học Cao học, tháng 11 năm 2008 Tùng bảo vệ thành công luận văn Cao học và nhận bằng Thạc sĩ ngữ văn.
- Bên Phật giáo đã có hệ đại học, sao Đông Tùng không học bên đó?
- Từ trước 1975, chùa Huệ Nghiêm là Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, nơi đây là một trong những chiếc nôi đào tạo ra Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam, chính vì thế chương trình giáo dục ở đây có hệ thống và quy củ. Hiện nay, tuy Huệ Nghiêm không còn hoạt động với danh nghĩa là trường Cao đẳng nữa nhưng nhiều vị Cao tăng uyên thâm về Phật học vẫn trụ tại đây và họ tiếp tục sự nghiệp đào tạo cũng như nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy nội điển Phật giáo. Sống trong môi trường như vậy, Tùng được dạy dỗ, thừa hưởng sự nghiệp giáo dục của các ngài nên không nhất thiết phải đến học ở Học viện Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh (Đại học Phật giáo) để học. Ngoài Phật học, điều mà Tùng cần trao dồi thêm là phương pháp luận nghiên cứu khoa học ở thế học nên Tùng theo học chương trình đại học ở ngoài thế gian. Và một trong những thành tựu Tùng gặt hái được sau bao năm học tập nghiên cứu Phật học lẫn tri thức văn chương là sự ra đời của tác phẩm "Điển cố Phật giáo trong một số tác phẩm văn học Thiền tông đời Trần" (Hiểu Đông, Nxb Tôn Giáo, 2009). Tác phẩm này cũng chính là luận văn Cao học mà Tùng bảo vệ thành công vào tháng 11-2008.
- Là một trong những thư pháp gia nổi tiếng về thư pháp chữ Việt, quá trình Đông Tùng đến với nó như thế nào?
- Tùng thích nghệ thuật nói chung, trong đó có hội họa và thư pháp. Năm 2001, Tùng đến CLB Thư họa Báo Giác Ngộ, học thư pháp chữ Việt với họa sĩ Chính Văn vào chủ nhật hàng tuần, khoảng 6 tháng. Khi kết thúc khóa học, Tùng tự trau dồi thư pháp Việt ở chùa. Thời gian sau, Tùng chuyển sang học thư pháp chữ Hán với họa sĩ Trương Lộ (2002), song việc học diễn ra không đều vì có lúc bận việc chùa chiền. Thế nhưng dưới hướng dẫn tận tình của các thầy Trương ở lớp nên khi trở về chùa Tùng có thể tự luyện tập và viết được thư pháp Hán.
THI PHÁP XỨ ANH ĐÀO KHƠI NGUỒN RUNG ĐỘNG VIỆT
Biết thi sĩ Đông Tùng sáng tác rất nhiều thơ với nhiều thể loại: thể tự do, lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt… song thể loại “gắn logo” cho thi sĩ này tới nay lại chính là thể thơ của xứ hoa anh đào Nhật Bản – thể thơ Haiku. Đông Tùng đã xuất bản hai tập thơ Haiku Việt và điều đặc sắc là tự mình viết thư pháp Việt cho những bài Haiku Việt của mình.
- Vì sao Đông Tùng lại dùng thể thơ Haiku cho những sáng tác của mình?
-Thơ Haiku có quan hệ mật thiết với Thiền học (thơ Đường, thơ Lý Trần và hội họa thủy mặc cũng gần với Thiền học). Tham cứu thiền, sáng tác thơ Haiku và viết thư pháp thể hiện chúng là điều vô cùng mầu nhiệm. Theo Tùng, ba việc này có quan hệ biện chứng, tuy ba mà là một, tuy một mà là ba.
- Nhân duyên nào đưa Đông Tùng đến với thể thơ này?
- Đầu tiên (năm 2001), Tùng tham dự những buổi giảng của thầy Phan Nhật Chiêu về thơ ca Nhật Bản, sau đó Tùng tìm tòi, nghiên cứu về thi pháp của thể thơ này và bắt đầu sáng tác. Từ năm 2001 đến nay (2008) Tùng sáng tác trên 800 bài Haiku. Năm 2009, duyên may quen biết Phó Gs. Lưu Đức Trung, Tùng đem những sáng tác của mình cho ông xem và nhờ ông thẩm định. Hiện tại, Tùng đã xuất bản hai tập Haiku Việt: Cúc rộ mùa hoa (Đông Tùng, Nxb Tôn Giáo, 2009) và Ngàn cánh mơ rơi (Đông Tùng, Nxb Văn Học, 2010).
- Đâu là “cái chốt” của thơ Haiku?
- Giống như hành Thiền, Haiku là "bức tranh" về những khoảnh khắc "đốn ngộ". Nguyên tác của Haiku là đòi hỏi người sáng tác Haiku phải có cái nhìn trực giác, vô phân biệt, cái nhìn như thực về thế giới hiện tượng. Khi sáng tác, tác giả phải dùng đôi mắt không có vọng tình, phân biệt chấp trước để quan sát sự vật hiện tượng, dùng đôi mắt thật khách quan để nhìn thế giới hiện tượng như chính nó đang tồn tại rồi tái hiện nó qua chữ nghĩa. Nếu không như vậy thì bài thơ ra đời chẳng phải là Haiku vì không chứa đựng tinh thần Haiku dù hình thức của nó hoàn toàn giống như Haiku. Người nào nắm bắt được điều cốt lõi này thì đối việc học thư pháp hay làm thơ Haiku coi như đã thành tựu được một nữa chặn đường, vấn đề còn lại là học phương pháp thực hành mà thôi.
- Điều gì giúp phân biệt thơ Haiku Việt với Haiku Nhật Bản?
- Điểm khác thứ nhất, do khí hậu Nhật Bản có 4 mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, còn khí hậu Việt Nam (nhất là miền Nam) chỉ 2 mùa Mưa-Nắng (mùa khô) nên Haiku Việt chứa đựng quý ngữ chỉ mùa của nước Việt, Haiku Nhật chứa đựng quý ngữ chỉ mùa của Nhật. Điểm khác thứ hai là về ngôn ngữ, Nhật ngữ đa âm, một bài thơ Haiku Nhật có khoảng 17 âm tiết theo cấu trúc 5-7-5. Còn Việt ngữ đơn âm, 17 âm tiết của tiếng Nhật không đồng 17 chữ của tiếng Việt, chính vì thế khi sáng tác Haiku Việt, người ta không nhất thiết dùng đến 17 chữ mà chỉ dùng cao nhất là 15 chữ là đủ cho một bài Haiku Việt. Dùng nhiều chữ sẽ mất đi tính kiệm lời và kiệm ngữ của Haiku. Đông Tùng thường dùng cấu trúc 4-4-4 để sang tác Haiku Việt.
- Thiền tính nào nổi bật nhất trong Haiku Việt nói chung và trong sáng tác của Đông Tùng?
- Đó chính là tính chất bình đẳng giữa vạn vật. Nói khác hơn là tư tưởng "Vạn vật đồng nhất thể". Thí dụ: "Một đường chỉ biếc/ khâu chiếc áo tơi/ nơi giáp biển trời".
Đường tiếp giáp giữa chân trời với biển cả cũng tựa như đường chỉ khâu giữa mảnh vải với chiếc áo rách mà thôi! Dùng một sự vật cụ thể, bình thường để nói vấn đề khái quát, mang tính vũ trụ lớn lao.
Trong Haiku, không chỉ tồn tại loài cây và hoa quý: tùng, cúc, mai, trúc… mà còn hiện hữu cỏ hoa dại, rừng cây hoang dã; không chỉ có những loài vật quý hiếm: long, lân, quy, phụng mà còn có cả những sinh vật tầm thường: ruồi, muỗi, kiến, dán...; không chỉ có tầng lớp thượng lưu mà còn có cả những hạng người bị xã hội chê bai: gái điếm, trai bao... Sở dĩ có những hiện tượng như vậy là do Haiku đã tiếp biến tinh thần "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tính" của nhà Phật, thí dụ: "Chàng trai bao/ đêm về trên phố/ bất chợt mưa rào".
- Năm mới, thầy Minh Cần - thi sĩ Đông Tùng có dự định gì chăng?
- Tiếp tục nghiên cứu văn học Phật giáo Lý Trần và triết học Phật giáo. Bên cạnh đó, Đông Tùng sẽ xuất bản các tập thơ tiếp theo. Tháng 7 năm nay, Đông Tùng vừa xuất bản tập thơMùa lá chín, tập thơ này sáng tác theo thể lục, thất ngôn, ngũ ngôn và thể tự do.
- Cám ơn nhà sư, nhà thơ đã dành thời gian trò chuyện. Chúc Phật sự của Minh Cần và con đường sáng tạo nghệ thuật của Đông Tùng được thành tựu viên mãn.
Hàng Chương

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét